LỊCH SỬ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM (Phần 7)
24.01.2010 23:12
|
|
| Sau nhiều nỗ lực và sự ban phước của Đấng Christ, người Việt được phước trước mặt Ngài |
Vietcampus.net - (Kỳ Cuối) TRUYỀN GIÁO Nguyên tắc thứ ba của Hội Truyền giáo được ghi trong bản điều lệ năm 1927, khuyến khích Hội thánh tự truyền bá Tin lành cho nhân dân của mình. Tuy nhiên công việc này không đạt được hiệu quả cao vì thiếu kế hoạch và sự hợp tác chặt chẽ. Công tác vở đất mới trong thời kỳ này hầu hết do Hội Truyền giáo chỉ đạo. Lý do là vì Hội thánh thiếu nhân sự lẫn tài chánh.
Tại Bắc hạt, việc giảng Tin lành bị hạn chế ở nhiều nơi. Tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và Hải Phòng việc truyền giảng ở các khu vực ngoại thành bị thu hẹp. Nhưng trong nội thành Hà Nội, Mục sư Lê Văn Thái Hiệp cùng giáo sĩ Homera H.Dixon thuê những căn phố hoặc dùng các nhà tín đồ ở những khu vực đông dân cư để mở phòng đọc sách và truyền giảng Tin lành.
Trong khoảng thời gian từ 1931-1934, tại Hà Nội, ngoài nhà thờ chính còn có thêm 8 nhà nguyện và 2 phòng đọc sách. Mỗi tuần có 27 chương trình nhóm họp tại những địa điểm đó. Ngoài sự điều hành của các Mục sư và Giáo sĩ, kết quả đạt được lá công khó của các tín hữu trong các ban chứng đạo. Đến năm đình chiến 1954, tại Hà Nội đã thành lập được các Hội thánh ở Gia Lâm, Bạch Mai, Hà Đông và Ô Cầu Giấy.
Đến đầu thập niên 40 thì việc rao truyền Tin lành có những bước phát triển mới. Hội Truyền giáo gởi thêm giáo sĩ đến khu vực, số Mục sư, Truyền đạo người Việt cũng gia tăng. Có 4 gia đình tình nguyện đi truyền giáo cho các bộ lạc ở miền Thượng du bắc Việt là bộ lạc Thổ, Mèo, Mán, Nùng và Khaleu.
Tại miền Trung, tình hình có phần khó khăn hơn nên công tác vở đất mới hầu hết do các Hội thánh địa phương đảm nhiệm. Tuy nhiên các giáo sĩ vẫn luôn cộng tác tích cực với các Mục sư Truyền đạo Việt Nam. Những khuôn mặt nổi bật trong giai đoạn này là giáo sĩ R. M. Jackson; I. R. Stebbins; W. A. Pruett; C. E. Travis; Mục sư Hoàng Trọng Thừa; Mục sư Phan Đình Liệu; Mục sư Dương Nhữ Tiếp. Hàng chục Hội thánh đựơc mở ra dọc theo quốc lộ 1 từ Bắc vào Nam. Chỉ riêng trong năm 1941 có 15 Hội thánh được thành lập trong khu vực Đà Nẵng và Tam Kỳ.
Công việc truyền giáo cho những dân tộc thiểu số miền Trung cũng đã được khởi sự sau năm 1930, khi Hội đồng Tổng liên hội năm đó biểu quyết mở rộng công cuộc truyền giáo. Mục sư Trịnh An Mẹo được gởi đến truyền giáo cho người Srê thuộc khu vực Dalat- Di linh. Mục sư Ngô Văn Lái truyền giáo cho người Bru tại Khe Sanh (Qủang Trị). Đến năm 1942 đã có 14 truyền giáo hầu việc Chúa giữa các bộ lạc Chrau, Stiêng, Kơho, Srê, Lạch, Chăm, Rađê, Rơgla, Katu, Thái, Mường, Mán, Thổ, Nùng, Mèo… ở rải rác trong 13 tỉnh miền Trung và Bắc.
Tại Nam hạt, kết quả vượt trội được ghi nhận trong thập niên 30. Công việc trong Hội thánh được chia thành 3 khu vực: miền Đông, miền Trung giang và miền Tây. Miền Đông có ít kết quả hơn do hoàn cảnh kinh tế khó khăn lúc bấy giờ. Ngoài khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn, chỉ có một vài Hội thánh được thành lập trong thập niên 30 đó là Biên Hòa, Thủ Đức, Bến Cát. Tại Tây Ninh, một nhà thờ được hoàn tất năm 1936 nhưng không thể phát triển nổi cho đến ngày nay. Riêng khu vực Sài Gòn, sau khi 2 Hội thánh được thành lập trong thập niên 20, một cho người Việt Nam và một cho người Hoa kiều. Lần lượt các Hội thánh khác trong các khu vực đông dân cư tiếp tục được thành lập. Năm 1941 Hội thánh Sài Gòn do Mục sư Lê Đình Tươi chủ tọa đã trở thành Hội thánh lớn nhất tại miền Nam. Ngôi nhà thờ lớn nhất Việt Nam lúc bấy giờ cũng được hoàn tất.
Tại khu vực Trung giang nhiều Hội thánh được thành lập từ năm 1924-1927 như Tân An, Gò Công, An Hóa, Ba Tri, Bình Đại, Lộc Thuận, Tân Thạch, Quới Sơn, Sóc Sải… Hầu hết đều là Hội thánh của Mỹ Tho. Trong các Hội thánh này phong trào chứng đạo bùng phát mạnh mẽ. Nhất là sau ngày Bác sĩ Tống Thượng Tiết đến giảng bồi linh vào năm 1938, khắp các Hội thánh dấy lên tinh thần chứng đạo một cách mãnh liệt.
Một tàu Tin Lành được hình thành dưới quyền điều hành của Mục sư Huỳnh Văn Ngà, đã len lỏi trong nhiều sông rạch ở miền Nam để truyền bá Tin lành. Năm 1933, một tín đồ ở Cần Thơ đã dâng cho Tổng liên hội một chiếc xe hơi, sau này được dùng làm xe giảng Tin lành lưu động dưới sự điều hành của Mục sư Bùi Tự Do. Tuy nhiên hoạt động của các đoàn truyền giảng lưu động nói trên bị hạn chế và không được lâu bền.
Đó là sự truyền giảng trong thời kỳ đất nước còn nhiều khó khăn vì chiến tranh. Sau này khi miền Nam được ổn định các hình thức truyền giảng đa dạng hơn, phong phú hơn. Như truyền giảng bằng sách báo, truyền giảng trong các trại lính, trong các nhà giam, trong các bệnh viện, trên đài phát thanh, trên đài truyền hình. Các địa hạt cũng tổ chức các chiến dịch truyền Tin Lành cách qui mô. Nhờ vậy mà Tin Lành đã được rao truyền cách rộng rãi trong mọi tầng lớp dân chúng ở miền Nam.
Tóm lại, qua quá trình hình thành và lớn mạnh của Hội thánh Tin Lành Việt Nam như có ngày hôm nay, chúng ta biết chắc rằng, Tin Lành không phải chỉ là một tổ chức tôn giáo, bèn là “quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin” (Rôma 1:16). Chúng ta là những người đã được cứu phải nổ lực hơn nữa trong công tác rao truyền ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho mọi người, hầu đem sự tái lâm của Chúa đến gần hơn. Vì “Tin lành này về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến”. (Mathiơ 24:14).
A - Men !
Trần Quang Thắng (Theo Sử Lược Hội Thánh) |